Nguyễn Huệ, anh hùng cầm quân trăm trận trăm thắng

Nguyễn Huệ sinh năm 1753 ở ấp Tây Sơn Thượng, Phú Quí Ninh, tỉnh Bình Định (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Thuở nhỏ theo học với thầy giáo Hiến. Tính ông thông minh, chăm học nên được thầy yêu mến, truyền dạy cho cả văn lẫn võ.
Năm 1771, anh em ông lập đồn trại trên núi của vùng Tây Sơn, chiêu tập nghĩa quân chống lại triều đình phong kiến của chúa Nguyễn do quyền thần Trương Phúc Loan tác oai, tác quái. Anh em ông thường lấy của nhà giàu phân phát cho người nghèo. Lực lượng nghĩa quân nhanh chóng hùng mạnh, tiến xuống chiếm phủ thành Qui Nhơn rồi tiến ra chiếm Quảng Ngãi (1773).
Năm 1775, lần đầu tiên xuất quân, Nguyễn Huệ đánh tan quân Nguyễn ở Phú Yên do Tống Phước Hiệp chỉ huy. Năm 1776, ông cầm quân đánh vào Bình Thuận, tiêu diệt đạo quân của chúa Nguyễn mới từ Phú Yên chạy về. Năm 1777 Nguyễn Huệ cùng với Nguyễn Lữ đưa quân vào Gia Định bắt giết chúa Nguyễn Phúc Thuần và cháu là Nguyễn Phúc Dương, còn Nguyễn Ánh chạy thoát. Nguyễn Huệ giao cho Nguyễn Lữ trấn giữ đất Gia Định, rồi rút quân về Qui Nhơn. Sau đó Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định.
Năm 1782 Nguyễn Huệ cùng với Nguyễn Nhạc vào Nam đánh Nguyễn Ánh. Ánh thua phải chạy ra Phú Quốc. Tháng 6/1783, Nguyễn Huệ đưa quân ra Phú Quốc, Nguyễn Ánh đưa gia đình chạy ra đảo Côn Sơn, cuối cùng chạy sang Xiêm cầu viện. Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đưa quân về Quy Nhơn.
Cuối năm 1784, Nguyễn Ánh rước quân Xiêm về đánh Sa Đéc. Tướng giữ thành Gia Định là Trương Văn Đa cho người về Quy Nhơn cấp báo. Nguyễn Huệ đưa quân vào tiếp cứu.
Khi vào đến Gia Định, ông tổ chức một trận phục kích trên sông Tiền, đoạn giữa rạch Gầm và rạch Xoài Mút (khoảng 6 km); đêm 18/01/1785, quận Tây Sơn dụ quân địch vào trận địa được mai phục, đánh tiêu diệt hơn 5 vạn quân Xiêm. Nguyễn Ảnh thoát chết theo đám tàn quân Xiêm chạy về nước. Diệt xong quân xâm lược Xiêm, Nguyễn Huệ đưa quân về Quy Nhơn, để Đô đốc Đặng Văn Trấn cai quản đất Gia Định.
Năm sau (1786), ông cùng Vũ Văn Nhậm đem quân thủy, bộ ra đánh Thuận Hóa, chỉ trong vòng mấy ngày, ông chiếm cả khu vực từ Thuận Hóa ra đến sông Gianh, tiêu diệt toàn bộ cánh quân phía Nam của Chúa Trịnh. Sau khi lấy Thuận Hóa, ông cùng Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân ra Bắc diệt họ Trịnh và chỉ trong mấy ngày, nghĩa quân Tây Sơn đã bình định xong đất Bắc.
Sau khi chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ nêu cao khẩu hiệu “Phù Lê diệt Trịnh”, vào cung Vạn Thọ yết kiến vua Lê Hiển Tông. Vua Lê phong cho ông làm Nguyên Soái, Uy quốc công và gả công chúa Ngọc Hân. Mọi việc ổn định, ông rút quân về Thuận Hóa. Lê Chiêu Thống hoảng sợ chạy sang Tàu cầu cứu nhà Thanh. Nhân cơ hội, vua Thanh phái 30 vạn quân sang chiếm nước ta (cuối năm 1788).
Được tin Tôn Sĩ Nghị kéo quân sang miền Bắc nước ta, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ làm lễ cáo trời đất lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Quang Trung, rồi đưa quân ra Bắc. Trên đường tiến quân ra Bắc, khi gặp quân sĩ ở Tam Điệp (Ninh Bình) ra đón, Hoàng đế Quang Trung tuyên bố: “...Chỉ nội mười ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch quân Thanh ...”. Ông cho quân sĩ ăn Tết trước, chiều 30 Tết, Nguyễn Huệ tiến quân ra Thăng Long và không tới 5 ngày, quân ta đã thần tốc tiêu diệt hơn 20 vạn quân Thanh, Thái thú Sầm Nghi Đống đóng quân ở Đống Đa sợ quá phải treo cổ tự tử, còn Tổng chỉ huy Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ không kịp mặc giáp, bỏ cả ấn tín tháo chạy về nước. Thấy chủ tướng bỏ chạy, quân Thành tranh nhau qua cầu phao, cầu bị sập, quân giặc chết đầy sông Hồng. Trưa ngày mùng 5 Tết Xuân Kỷ Dậu (1789), Quang Trung và nghĩa quân vào thành Thăng Long, được nhân dân đón tiếp tưng bừng.
Sau đó ông được vua Thanh sai sứ sang nước ta phong làm An Nam quốc vương và mời ông sang Yên Kinh yết kiến vua Thanh. Năm sau, ông sai Phạm Công Trị trá làm Quốc Vương cùng Ngô Văn Sở, Phan Huy Chú sang Trung Quốc yết kiến cua Càn Long, được vua Càn Long hết lời ca ngợi./.
Trần Anh Tuấn (Chi Hội Cựu Giáo chức cơ quan Sở GD & ĐT)
Ý kiến của bạn












Entries(RSS)